Liên kết website - tìm kiếm
TTYT DP TP. ĐÀ NẴNG
Chào mừng đến với website yteduphongdanang.vn Thứ năm, ngày 23 tháng 11 năm 2017
"Tiêm chủng, biện pháp hiệu quả bảo vệ trẻ em khỏi dịch, bệnh"
  • dan vu 2014

  • thieu nhi 2014

  • tap huan trien khai soi rubela o huyen

  • taphuan TCM

  • khambenh

  • taphuanphunthuoc

  • khambenh2

  • doanjica

  • daihoicongdoan

  • tuvan

  • betiemchung

  • daihoidangtapthenam

  • tangqua8.3

  • 8.3

  • thanhnien

  • sl5

  • sl3

  • sl2

  • 1

  • 5253

  • 0543

  • 04511

Hỗ trợ trực tuyến
Thư viện hình ảnh
Thời tiết

Hà Nội

Ðà Nẵng

TP Hồ Chí Minh


Rối loạn do thiếu iốt
Đà Nẵng, ngày 31 tháng 10 năm 2016
 
     Khi cơ thể được cung cấp thiếu iốt hoặc quá nhiều iốt đều có thể dẫn đến bệnh tuyến giáp. Thuật ngữ "rối loạn do thiếu i-ốt" đề cập đến các hậu quả của sự thiếu hụt i-ốt, hậu quả sẽ phụ thuộc vào mức độ nghiêm trọng và độ tuổi của đối tượng bị ảnh hưởng. Khi thiếu iốt nặng xảy ra trong thời gian mang thai, sẽ dẫn đến suy giáp thai nhi, đần độn, và tăng tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh. Ở người lớn, suy giáp do thiếu iốt là rất hiếm, trong khi các biểu hiện thường gặp nhất là bướu cổ đơn thuần, bướu giáp nhân, viêm tuyến tuyến giáp và cường giáp.
     Iốt là một thành phần thiết yếu của hormon giáp- thyroxine (T4) và triiodothyronine (T3), iốt được cung cấp cho cơ thể qua chế độ ăn uống. Lượng iốt thiếu dẫn đến sản xuất hormone tuyến giáp không đầy đủ, và những hậu quả của thiếu hụt i-ốt có thể xảy ra.

Ở các nước đang phát triển, thiếu hụt iốt được xác định là một trong những yếu tố thay đổi được, nếu không giải quyết tình trạng thiếu iốt, có thể ảnh hưởng xấu đến sự phát triển trẻ em. Đó là một vấn đề y tế công cộng toàn cầu và trong cuộc chiến chống lại nó, việc quan trọng là chẩn đoán và điều chỉnh ở mức độ cộng đồng chứ không phải là cá nhân.

Iốt là cần thiết để tổng hợp hormone tuyến giáp, để cho tuyến giáp tổng hợp đủ lượng thyroxine (T4), cần phải cung cấp khoảng 52 mcg iốt hàng ngày cho tuyến giáp. Thiếu iốt nặng xuất hiện khi lượng iốt cung cấp < 20 mcg/ngày trong thời gian dài.

Iốt cung cấp cho cơ thể từ các loại thực phẩm tự nhiên (cá, hải sản, tảo bẹ, một số loại nước uống, và các loại rau trồng trên đất đủ iốt) hoặc iốt được thêm vào muối ăn. Sữa bò là một nguồn iốt do iốt có trong thức ăn gia súc và việc con người sử dụng các chất tẩy rửa bầu vú có iodophor trong ngành công nghiệp sữa. Muối biển tự nhiên chỉ chứa một lượng nhỏ iốt. Iốt trong thức ăn được hấp thu và phân bố nhanh trong dịch ngoại bào, vận chuyển vào tuyến giáp và bài tiết ra nước tiểu.

Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) khuyến cáo:

● 90 mcg iốt hàng ngày cho trẻ sơ sinh và trẻ em đến 5 tuổi

● 120 mcg/ngày cho trẻ em từ 6 đến 12 tuổi

● 150 mcg/ngày cho trẻ ≥ 12 tuổi và người lớn

● 250 mcg/ngày cho phụ nữ trong thời kỳ mang thai và cho con bú

Viện Y học Hoa Kỳ (IOM) khuyến cáo lượng iốt hàng ngày tối thiểu

● 90 mcg mỗi ngày cho trẻ em 1- 8 tuổi

● 120 mcg/ngày cho trẻ em 9 - 13 tuổi

● 150 mcg/ngày cho thanh thiếu niên và người lớn không mang thai

● 220 mcg/ngày cho phụ nữ mang thai

● 290 mcg/ngày cho phụ nữ cho con bú

Yêu cầu iốt là cao hơn ở phụ nữ mang thai do sự gia tăng sản xuất T4 cần thiết để duy trì bình giáp của mẹ. Thiếu iốt nặng ở mẹ trong thời kỳ mang thai sẽ giảm sản xuất T4, giảm vận chuyển T4 qua nhau, dẫn đến giảm sự phát triển thần kinh của thai nhi.

Phân loại thiếu iốt dựa trên nồng độ iốt niệu trung vị trong quần thể. Nhóm khảo sát thông thường nhất là trẻ em trong độ tuổi đi học (6-12 tuổi), nhưng dinh dưỡng của trẻ phải phản ánh được mức cung cấp  iốt cho cộng đồng để các dữ liệu có ý nghĩa.

Nồng độ iốt niệu trung vị bình thường là:

● 100 - 299 mcg/L cho trẻ em và người lớn không mang thai

● 150 - 249 mcg/L đối với phụ nữ mang thai

Thiếu iốt được xác định bởi nồng độ iốt niệu trung vị sau đây:

● Thiếu iốt nhẹ: 50 - 99 mcg/L

● Thiếu iốt vừa: 20 - 49 mcg/L

● Thiếu hụt iốt nghiêm trọng: < 20 mcg/L

Một lượng iốt hàng ngày trung bình 150 mcg tương ứng với nồng độ iốt niệu trung vị là 100 mcg/L.

Phụ nữ mang thai cần đặc biệt chú ý vì ngưỡng thận đối với iốt thấp, muối dinh dưỡng (bao gồm muối iốt) thường bị hạn chế khi mang thai, điều đó dẫn đến nhu cầu của thai nhi và những hậu quả của sự thiếu hụt iốt cho thai nhi sẽ lớn hơn.

Nhân tố có thể làm trầm trọng thêm những tác động của tình trạng thiếu iốt bao gồm sự thiếu hụt cùng tồn tại của sắt, selen, vitamin A, và ăn các thực phẩm như sắn, hạt kê có chứa chất cản trợ sự hấp thu iốt của tuyến giáp.

Hậu quả của thiếu iốt

Bướu giáp lan tỏa và bướu giáp nhân là biểu hiện rõ ràng nhất của thiếu iốt. lượng iốt thấp dẫn đến giảm sản xuất thyroxine (T4) và triiodothyronine (T3) của tuyến giáp, kết quả tăng hormone kích thích tuyến giáp (TSH) trong nỗ lực để khôi phục T4 và sản xuất T3 bình thường. TSH cũng kích thích tăng trưởng kích thước tuyến giáp; do đó, bướu cổ xảy ra như là một phần của phản ứng bù của tuyến giáp do thiếu hụt iốt.

Bướu cổ bước đầu lan tỏa nhưng cuối cùng trở thành nhân vì các tế bào ở một số nang tuyến giáp phát triển nhiều hơn. Do đó, ở những vùng thiếu hụt iốt, trẻ em và thanh thiếu niên thường có bướu giáp lan tỏa, trong khi những người lớn sống trong điều kiện thiếu iốt thường xuyên có bướu giáp nhân.

Bướu cổ được đánh giá bằng cách sờ nắn, đặc biệt là trong lĩnh vực nghiên cứu. Trong thập kỷ qua, siêu âm, cho phép ước lượng chính xác khối lượng tuyến giáp, trở thành phương pháp ưa thích để đánh giá tuyến giáp. Tại các vùng thiếu iốt, khối lượng tuyến giáp trung bình là lớn hơn đáng kể so với các vùng đủ iốt.

Đối với nhiều cá nhân, bướu cổ do thiếu iốt chỉ là vấn đề thẩm mỹ. Tuy nhiên, người lớn đặc biệt là già, bệnh bướu cổ có thể đủ lớn để gây ra chèn ép khí quản hoặc thực quản hoặc có thể dẫn đến ung thư tuyến giáp.
 

Thiếu Iốt làm tăng tỷ lệ mắc bướu cổ lan tỏa và bướu giáp nhân. Theo thời gian, sự phát triển và chức năng tự trị của nang tuyến giáp có thể xảy ra sau đó, dẫn đến bệnh bướu giáp độc và cường giáp nếu thiếu iốt không phải là cực kỳ nghiêm trọng. Trong các khu vực thiếu iốt nhẹ đến trung bình, bướu giáp độc đa nhân là một nguyên nhân phổ biến của cường giáp ở người lớn tuổi. Cường giáp có nhiều khả năng phát triển nếu lượng iốt được bổ sung, điều đó có thể xảy ra ở những bệnh nhân có các nhân giáp không độc sống ở các vùng bổ sung liều lượng lớn iốt vượt quá ngưỡng cho phép.

 

Suy giáp do thiếu iốt hiện nay là cực kỳ hiếm. Người lớn có các biểu hiện lâm sàng điển hình của suy giáp và thường là bướu cổ. Dinh dưỡng iốt tối ưu ở những người phụ nữ mang thai là cần thiết cho sự phát triển đầy đủ của thai nhi. Đối với thai nhi đang phát triển hoặc trẻ sơ sinh, suy giáp bà mẹ không được điều trị do thiếu i-ốt trầm trọng là một thảm họa vì hormon tuyến giáp rất cần thiết cho sự trưởng thành bình thường của hệ thống thần kinh trung ương, đặc biệt là myelin hóa thần kinh. Trong 12 tuần đầu của thai kỳ, thai nhi là hoàn toàn phụ thuộc vào hormon giáp T4 mẹ. Trong tuần thứ 10 đến tuần thứ 12 của thai kỳ, TSH thai nhi xuất hiện và tuyến giáp của thai nhi có khả năng tập trung iốt và tổng hợp iodothyronines. Tuy nhiên, tuyến giáp của thai nhi tổng hợp hormone giáp rất ít và tăng dần cho đến khi thai 18 đến 20 tuần.

Suy giáp trong thời kỳ phát triển của thai dẫn đến khuyết tật trí tuệ vĩnh viễn trong đó, hình thức nghiêm trọng nhất, được gọi là đần độn. Ngoài khuyết tật trí tuệ, đần độn đi kèm với khuyết tật về thần kinh và tế bào soma khác. Điều này dẫn đến đần độn được chia thành 2 thể đần độn là thể thần kinh và thể phù niêm:

● Đần độn thể thần kinh được đặc trưng bởi tình trạng khuyết tật trí tuệ, điếc, rối loạn dáng đi, và co cứng cơ thể. Nó được cho là kết quả của suy giáp ở người mẹ trong quá trình mang thai sớm dẫn đến suy giáp sau sinh ở trẻ.

● Đần độn thể phù niêm được đặc trưng bởi tình trạng khuyết tật trí tuệ, tầm vóc cơ thể ngắn, và suy giáp. Nó được cho là do thiếu iốt và tổn thương tuyến giáp chủ yếu vào cuối thai kỳ và tiếp tục sau khi sinh.

Hai hội chứng trên chồng lên nhau đáng kể, và phân loại chúng ở các giai đoạn phát triển cụ thể chắc chắn là đơn giản nhờ vào sự theo dõi chức năng tuyến giáp của bà mẹ trong suốt thời kỳ mang thai. Cả hai có thể được ngăn chặn bằng việc cung cấp đủ lượng iốt cho bà mẹ và trẻ sơ sinh.

Thiếu iốt nặng tăng tử vong ở trẻ sơ sinh, có thể giảm tử vong đến 50% ở trẻ với sự điều chỉnh khăc phục thiếu iốt nặng. Trẻ suy giáp hay khuyết tật thần kinh có thể bị nhiều chấn thương khi sinh và dễ bị các bệnh truyền nhiễm và thiếu hụt dinh dưỡng, điển hình ở các cộng đồng nông thôn nghèo, trong đó thiếu hụt iốt là quá nổi bật.

Thiếu iốt nhẹ đến vừa trong khi mang thai rất khó để phân biệt giữa những tác động lâu dài của thiếu iốt của thai nhi và những tác động liên tục của thiếu iốt ở trẻ em và vị thành niên.

Khiếm khuyết thần kinh lâm sàng đã được mô tả ở trẻ em sinh ra từ mẹ thiếu hụt iốt nhẹ đến trung bình trong khi mang thai. Những khiếm khuyết này có thể được phát hiện bằng xét nghiệm bệnh học thần kinh thích hợp./.

 

                                                                                   Bs. Nguyễn Hóa